Để thu hút thêm nhiều thương vụ đầu tư vào giáo dục, bên cạnh việc tạo điều kiện cho những doanh nghiệp có thực lực, minh bạch và cam kết dài hạn, Việt Nam cần xây dựng một môi trường pháp lý rõ ràng, ổn định và nhất quán, để nhà đầu tư có thể yên tâm đồng hành lâu dài.
Từ việc EQuest vướng mắc, nhìn về môi trường đầu tư
Cách đây khoảng 1 năm, giới đầu tư và M&A không khỏi “ngỡ ngàng” về câu chuyện tranh chấp giữa Công ty Cổ phần Đầu tư giáo dục Việt Mỹ K-12 (Việt Mỹ K-12), Công ty Cổ phần Giáo dục Ngôi Sao Việt Nam (thành viên của Tập đoàn Giáo dục EQuest) và bà Phạm Bích Ngà – Chủ tịch HĐQT Công ty Đông Đô, về việc nhận chuyển nhượng 80% (tương đương 1.000 tỷ đồng) quyền sở hữu, điều hành Trường Tiểu học, THCS và THPT Ngôi Sao Hoàng Mai. Theo đó, phía các thành viên của EQuest đã hoàn tất nghĩa vụ tài chính, nhưng việc chuyển giao đến nay vẫn chưa thể thực hiện theo cam kết, nhà đầu tư vẫn gặp vướng mắc trong việc thực thi quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp.
Phân tích về tranh chấp nêu trên, chuyên gia kinh tế Trần Nguyên Đán đánh giá, đây là một trong những rào cản nghiêm trọng nhất, khoảng trống pháp lý trong bảo vệ quyền sở hữu sau M&A trong lĩnh vực giáo dục nói riêng, và các lĩnh vực khác trong nền kinh tế. Khi nhà đầu tư quốc tế thấy quyền sở hữu tài sản giáo dục có thể bị vô hiệu hóa sau khi họ đã hoàn tất nghĩa vụ thanh toán, họ buộc phải cộng rủi ro đó vào suất chiết khấu, nghĩa là đòi lợi nhuận kỳ vọng cao hơn, hoặc chọn thị trường khác. Chi phí của lỗ hổng pháp lý này, xét cho cùng sẽ do người học gánh chịu.

Theo ông Đán, vụ việc này cũng đặt ra vấn đề về nhu cầu bảo đảm tính nhất quán, minh bạch và khả năng thực thi của hệ thống pháp luật Việt Nam khi trong tương lai sẽ (và đáng lý ra đã) có hàng tỷ đô USD tiếp tục được các nhà đầu tư quốc tế “rót” vào giáo dục.
Trao đổi thêm, vị chuyên gia nêu thêm một số rào cản chính sách về đầu tư giáo dục tư nhân tại Việt Nam, có thể sẽ khiến các định chế tài chính nước ngoài e dè, mặc dù thị trường rất tiềm năng.
Trước hết là ngưỡng vốn gia nhập. Tại Nghị định 86/2016 quy định suất đầu tư tối thiểu 50 triệu đồng mỗi học sinh với cơ sở phổ thông, tổng vốn không thấp hơn 50 tỷ đồng và 1.000 tỷ đồng cho cơ sở giáo dục đại học. Mới đây, Nghị định 124/2024 sửa đổi theo hướng tháo gỡ, khi bổ sung lộ trình góp vốn theo tiến độ cho phù hợp giai đoạn đầu khi số học sinh còn ít. Nhưng mặt bằng ngưỡng vốn kế thừa từ 2018 vẫn cao so với các mô hình giáo dục quy mô nhỏ, chuyên biệt. Đánh đổi ở đây rất rõ, ngưỡng vốn cao sàng lọc được nhà đầu tư yếu, nhưng cũng gạt ra ngoài những nhà đầu tư vừa và nhỏ mang mô hình sáng tạo, làm nghèo đi hệ sinh thái.
Kế đến là điều kiện chọn lọc rất cao ở phân khúc đại học quốc tế. Nghị định 124/2024 yêu cầu cơ sở giáo dục đại học nước ngoài muốn mở phân hiệu tại Việt Nam phải thuộc nhóm 500 trường xếp hạng cao nhất thế giới trong một trong ba năm gần nhất. Mục tiêu chọn lọc tinh hoa là đúng, nhưng cần thấy đánh đổi: các trường top 500 thế giới có rất nhiều lựa chọn điểm đến và Việt Nam phải cạnh tranh với Singapore, Malaysia, những nơi đã có sẵn hệ sinh thái phân hiệu quốc tế.
“Đặt tiêu chuẩn cao mà thiếu những thể chế, chính sách đầu tư ưu đãi tương xứng, cũng như các quy định bảo vệ nhà đầu tư thì chuẩn cao vô hình chung trở thành rào cản một chiều”, chuyên gia kinh tế quan ngại.
Để có nhiều thương vụ lớn: Cần cơ chế bảo vệ nhà đầu tư thực chất
Vừa qua, EQuest huy động thành công 115,5 triệu USD từ các ngân hàng tại Anh Quốc và Đài Loan. Trước đó, vào năm 2025, Vinschool cũng vay vốn thành công từ Ngân hàng Phát triển châu Á. Các chuyên gia kinh tế cho rằng, những thương vụ này là minh chứng cho niềm tin của nhà đầu tư quốc tế vào giáo dục Việt Nam. Để có thêm nhiều thương vụ tương tự, ngoài doanh nghiệp tốt, cần một môi trường pháp lý rõ ràng, ổn định, minh bạch. Nhà đầu tư quốc tế không chỉ nhìn vào thị trường, họ còn quan tâm đến tính an toàn, khả năng bảo vệ quyền lợi hợp pháp, hiệu quả thực thi pháp luật.
Ông Trần Quốc Khánh, Phó Chủ tịch HĐQT EQuest, nguyên Thứ trưởng Bộ Công Thương nêu quan điểm, nhà đầu tư toàn cầu coi mức độ an toàn, tín nhiệm và pháp trị là yếu tố tiên quyết khi rót vốn vào một quốc gia.

Trao đổi thêm về giải pháp làm sao vừa hút được “đại bàng” và vẫn giữ chất lượng, ông Trần Nguyên Đán cho biết, hai mục tiêu này không mâu thuẫn, nhưng cũng không tự động đi cùng nhau. Hoàn toàn có thể hút vốn lớn mà chất lượng không tăng, nếu vốn chỉ nhân rộng quy mô. Thiết kế chính sách phải xử lý điều đó một cách tường minh.
Thứ nhất, quan trọng hơn cả là hoàn thiện khung pháp lý M&A giáo dục với cơ chế bảo vệ nhà đầu tư thực chất, đặc biệt là cơ chế thực thi cam kết chuyển giao và lối ra (exit) rõ ràng cho vốn tư nhân. Bên cạnh đó, tăng tính minh bạch, ổn định, khả năng dự báo của môi trường đầu tư.
Thực tế, không cần luật mới, chỉ cần làm rõ trong khung hiện có: quyền sở hữu tài sản giáo dục xác lập thế nào, tranh chấp xử theo quy trình nào, thoái vốn ra sao. Đánh đổi phải chấp nhận: khi lối ra được thể chế hóa, một số cơ sở giáo dục sẽ bị mua đi bán lại như tài sản tài chính, điều nhiều người không thoải mái. Nhưng không chấp nhận đánh đổi đó, vốn ngoại sẽ chọn thị trường minh bạch hơn.
Thứ hai, chuyển trọng tâm từ ràng buộc đầu vào sang ràng buộc kết quả. Hiện chúng ta kiểm soát chủ yếu bằng vốn tối thiểu và cơ sở vật chất, tức đầu vào. Ông Trần Nguyên Đán đề xuất gắn ưu đãi thuế, đất, thủ tục với các chỉ số đầu ra đo được: tỷ lệ người học có việc làm đúng ngành sau 12 tháng, kết quả kiểm định quốc tế, mức lương khởi điểm so với trung bình ngành.
Kinh nghiệm Israel đáng tham khảo ở chính điểm này, trong các chương trình giáo dục khởi nghiệp của họ, học sinh đi trọn hành trình từ ý tưởng đến sản phẩm mà không được cấp sẵn ngân sách hay thiết bị, phải tự tìm nguồn lực. Triết lý xuyên suốt là đánh giá con người dựa trên năng lực tạo ra kết quả, không đo bằng nguồn lực được rót vào. Chính sách FDI giáo dục của ta nên theo đúng tinh thần đó với nhà đầu tư.
Thứ ba, tách hai làn FDI giáo dục và thiết kế chính sách riêng cho từng làn. Làn phục vụ phân khúc cao cấp, quốc tế hóa thì để thị trường tự vận hành, Nhà nước chỉ cần bảo đảm cạnh tranh lành mạnh và minh bạch thông tin. Làn phục vụ đào tạo nghề, giáo dục đại chúng, vùng khó khăn, cần ưu đãi mạnh hơn hẳn và kiểm định chặt hơn. Gộp hai làn vào một khung là thiết kế sai từ gốc, vì cơ chế khuyến khích cần cho hai loại vốn này khác nhau hoàn toàn.

“Dòng vốn quốc tế vào giáo dục Việt Nam là phiếu tín nhiệm cho tiềm năng nhân lực của đất nước, nhưng phiếu tín nhiệm nào cũng có điều kiện và có thể bị rút lại. Việc của chính sách không phải là vui với các con số huy động, mà là xây nền thể chế đủ vững để dòng vốn chảy đúng hướng và niềm tin đó được giữ đủ lâu, đến khi tạo ra kết quả thật cho người học. Đồng thời, giữ chân dòng vốn dài hạn và hướng tới mục tiêu nâng hạng thị trường”, ông Trần Nguyên Đán khẳng định.
Cùng quan điểm, để thu hút thêm đầu tư chất lượng, ông Christopher Jeffery Giám đốc Điều hành Cấp cao phụ trách Chiến lược & Đối tác quốc tế Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam (BUV) khuyến nghị, tiếp tục cải thiện tính minh bạch và hiệu quả hành chính, chẳng hạn triển khai cơ chế “một cửa” trong cấp phép hoặc hướng dẫn cụ thể hơn về sáp nhập, mua bán trong lĩnh vực giáo dục.
Theo PGS. TS Nguyễn Bá Hoàng, quyền Hiệu trưởng Trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu, nhà nước cần phải hoàn thiện cơ chế, chính sách thông thoáng hơn, có quy trình quy định thật rõ ràng. Kế đến cần tăng cường ưu đãi thuế, hỗ trợ đất đai và tín dụng ưu đãi cho các dự án giáo dục.
Ông đưa ra gợi ý, cần khuyến khích mô hình hợp tác công – tư (PPP) nhằm chia sẻ rủi ro và lợi ích. Nhà nước có thể đầu tư hạ tầng theo hình thức cho thuê hoặc cùng chia lợi nhuận, đặc biệt sử dụng các cơ sở hạ tầng mà sau khi giải thể, sáp nhập quận, huyện, phường, xã dôi dư, doanh nghiệp tổ chức vận hành… Ngoài ra cần tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy tự chủ và đổi mới sáng tạo trong các cơ sở giáo dục.
Bài viết gốc: Tạp chí Vietnam Finance