Thương vụ 115 triệu USD vào giáo dục: Thị trường tỷ USD và thời điểm đột phá chất lượng

Theo các chuyên gia, những thương vụ hàng trăm triệu USD “rót” vào khối giáo dục tư nhân Việt Nam không đơn giản là con số, đó còn là niềm tin của nhà đầu tư và xa hơn là dòng vốn tạo tác động, xây dựng hệ thống giáo dục đủ năng lực cung cấp nguồn nhân lực đạt chuẩn quốc tế trong dài hạn.

Dòng vốn lớn nhưng quan trọng là tạo tác động trong dài hạn

Trong nhiều năm trở lại đây, Việt Nam luôn là thị trường hấp dẫn với các nhà đầu tư giáo dục, đặc biệt là dòng vốn từ khối tư nhân và nhóm nhà đầu tư quốc tế. Điển hình, vào tháng 6/2026, Tập đoàn Giáo dục EQuest (Việt Nam) đã huy động thành công khoản vay hợp vốn quốc tế đầu tiên trị giá 115,5 triệu USD, chủ yếu từ các ngân hàng Đài Loan. Thương vụ vay vốn lần này là bước tiến mới nhất sau khi EQuest nhận được gói vốn 120 triệu USD vào năm 2023 – sự kết hợp giữa vốn cổ phần từ quỹ đầu tư KKR và dòng vốn vay từ các tổ chức tín dụng. Trước đó, KKR bắt đầu rót vốn vào EQuest từ năm 2021.

Tập đoàn Giáo dục EQuest huy động thành công khoản vay hợp vốn quốc tế đầu tiên trị giá 115,5 triệu USD. (Ảnh: Trường St. Nicholas School Đà Nẵng, một thành viên của EQuest)

Ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi (NTU) đánh giá, ý nghĩa lớn nhất của các khoản đầu tư quy mô lớn vào giáo dục tư nhân mới đây không nằm ở giá trị hàng trăm triệu USD của từng thương vụ, mà ở thông điệp mà các nhà đầu tư quốc tế gửi tới thị trường Việt Nam. Họ đang nhìn nhận giáo dục Việt Nam là một lĩnh vực có tiềm năng tăng trưởng dài hạn, có khả năng tạo ra giá trị bền vững và đóng góp trực tiếp vào sự phát triển của nền kinh tế.

Quan trọng hơn, dòng vốn quốc tế không chỉ có nguồn lực tài chính mà còn mang theo tri thức quản trị, công nghệ giáo dục, chuẩn kiểm định chất lượng, phương pháp đào tạo hiện đại và mạng lưới hợp tác học thuật toàn cầu. Đây mới là giá trị gia tăng lớn nhất, giúp các cơ sở giáo dục Việt Nam nâng cao chất lượng, tăng cường hội nhập và từng bước tham gia sâu hơn vào hệ sinh thái giáo dục quốc tế.

Nêu góc nhìn về chuyển động của các “ông lớn” trong ngành giáo dục nêu trên, chuyên gia kinh tế Trần Nguyên Đán cho rằng, các thương vụ gần đây như EQuest hay Vinschool là sự tiếp nối của một xu hướng đã diễn ra gần một thập kỷ, chứ không phải hiện tượng đột biến. Ông dẫn số liệu của Bộ Tài chính, tính đến hết tháng 2/2025, Việt Nam có 707 dự án FDI trong lĩnh vực giáo dục với tổng số vốn đầu tư gần 4,64 tỷ USD, riêng năm 2022 đạt đỉnh với 254 triệu USD so với 67 triệu USD của năm 2019.

Các tổ chức giáo dục tư nhân tại Việt Nam đang nhận được sự quan tâm của các định chế tài chính toàn cầu. (Ảnh: Vinschool).

Tuy nhiên, theo ông Đán, điều đáng phân tích hơn con số là bản chất dòng vốn gồm hai loại: vốn thương mại thuần túy “rót” vào để sinh lời từ hoạt động giáo dục và vốn tạo tác động (Impact Investment) vào để xây nền tảng nhân lực, chấp nhận thời hạn hoàn vốn dài hơn.

Nếu nhìn vào danh tính bên nhà đầu tư sẽ thấy loại thứ hai đang chiếm ưu thế. Cụ thể, KKR đầu tư vào EQuest qua quỹ KKR Global Impact với định hướng học tập suốt đời. Vinschool năm 2025 huy động 150 triệu USD mà trong nhóm cho vay có Ngân hàng Phát triển Châu Á. Một định chế tài chính phát triển đa phương như ADB không tham gia nếu dự án chỉ đơn thuần là kinh doanh học phí.

Phân tích về ý nghĩa của dòng vốn này, chuyên gia Trần Nguyên Đán nhìn nhận  ở ba tầng giá trị. Thứ nhất, tầng vốn tài chính để xây trường, tuyển giáo viên là tầng dễ thấy nhất. Tầng thứ hai là vốn quản trị, khi một quỹ PE (Quỹ đầu tư tư nhân) toàn cầu đổ tiền vào doanh nghiệp giáo dục Việt Nam, họ mang theo chuẩn kiểm soát nội bộ, kiểm định quốc tế, quản trị công ty. Tầng thứ ba là vốn uy tín, giúp cơ sở giáo dục thu hút giáo viên giỏi, đối tác chương trình và niềm tin từ phụ huynh.

Tuy vậy, vị chuyên gia cũng lưu ý rằng, nguồn lực tài chính cần đi cùng năng lực triển khai. Vốn có thể giúp mở rộng quy mô nhanh, nhưng nếu đội ngũ giáo viên và chương trình đào tạo không phát triển tương xứng, việc mở rộng sẽ khó tạo ra giá trị bền vững.

“Câu hỏi mà các bên cần đặt ra trước mỗi thương vụ là: khoản tiền này đang mua thêm chỗ học, hay mua thêm chất lượng học? Hai thứ đó khác nhau, đây là điều cần cân nhắc”, vị chuyên gia đặt vấn đề.

Nhiều chuyên gia kinh tế cũng đồng quan điểm, việc ngày càng nhiều tổ chức giáo dục tư nhân tại Việt Nam nhận được sự quan tâm của các định chế tài chính toàn cầu thể hiện các doanh nghiệp đang có năng lực quản trị tốt, minh bạch hóa tài chính và chiến lược phát triển rõ ràng, dài hơi. Bên cạnh đó, quy mô hệ sinh thái và khả năng tạo ra tác động dài hạn trong lĩnh vực giáo dục cũng là một chỉ số được các nhà đầu tư quốc tế quan tâm, đặc biệt là định chế tài chính lớn với mục tiêu vốn tạo tác động, chấp nhận dài hơi.

Chưa kể, việc được nhiều định chế tài chính trong nước như Vietinbank hoặc đa quốc gia Standard Chartered (thu xếp chính), CTBC Bank (đồng thu xếp) và các tổ chức tài chính quốc tế tham gia thu xếp khoản vay cũng cho thấy uy tín và niềm tin ngày càng rõ nét vào tiềm năng của lĩnh vực này. Doanh nghiệp nào tốt sẽ có cơ hội lớn tiếp cận với các nguồn vốn chất lượng và dài hạn.

Thị trường chục tỷ USD, đang chờ được “đầu tư sinh sôi”

Chia sẻ về tiềm năng, chuyên gia Trần Nguyên Đán đánh giá, có ba lý do mang tính cấu trúc khiến vì sao thị trường giáo dục tư nhân Việt Nam hấp dẫn đến vậy.

Thứ nhất, nhân khẩu học cộng với hành vi chi tiêu. Việt Nam có dân số trẻ và một tầng lớp trung lưu sẵn sàng dành tỷ trọng thu nhập rất cao cho việc học của con. Đây là cơ chế khuyến khích mạnh nhất kéo vốn tư nhân vào: nơi nào người dân tự nguyện chi nhiều cho giáo dục, nơi đó thị trường có độ sâu thật.

Thứ hai, khoảng cách cung cầu. Hệ thống công lập đang quá tải ở các phân khúc giáo dục chất lượng cao, đào tạo nghề và đại học. Nhà đầu tư khôn ngoan không vào thị trường đã bão hòa, mà họ tìm chỗ đang thiếu.

Thứ ba, đây cũng là yếu tố được cho là quyết định: Việt Nam đang ở “điểm uốn” về nhu cầu nhân lực. Làn sóng FDI sản xuất công nghệ cao đổ vào mấy năm qua tạo ra nhu cầu nhân lực mà hệ thống đào tạo hiện tại chưa đáp ứng nổi. Khoảng trống giữa nhân lực đang có và nhân lực các nhà máy thế hệ mới cần, đó mới là thứ nhà đầu tư giáo dục nhìn thấy.

Nhu cầu về giáo dục chuẩn quốc tế tại Việt Nam vẫn rất cao. (Ảnh: Trường Quốc tế Canada CIS, một thành viên của EQuest).

“Tại Nghị quyết 71 năm 2025 của Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến 2045 Việt Nam vào nhóm 20 nền giáo dục hàng đầu thế giới, với nhà đầu tư quốc tế, một cam kết chính trị ở cấp cao nhất như vậy là tín hiệu về độ bền của chính sách”, ông Đán cho hay.

Ông dẫn chứng Israel làm một ví dụ điển hình. Đất nước đó không có dầu mỏ, đất hẹp, dân ít, nhưng trở thành “quốc gia khởi nghiệp” với mật độ công ty công nghệ cao thuộc hàng cao nhất thế giới, thu hút các tập đoàn công nghệ lớn đến để mở trung tâm nghiên cứu để tìm nhân tài. Tài nguyên duy nhất họ đầu tư bền bỉ suốt nhiều thập kỷ là con người, với giáo dục và khoa học được xác định là trụ cột quốc gia. Việt Nam đông dân hơn Israel nhiều lần và đang có đà tăng trưởng, nếu dòng vốn giáo dục được dẫn đúng hướng, con đường đó nằm trong tầm tay với chứ không phải chuyện viển vông.

Ông Christopher Jeffery, Giám đốc Điều hành Cấp cao phụ trách chiến lược và Đối tác quốc tế, Trường Đại học Anh quốc Việt Nam (BUV) cũng cùng quan điểm, thị trường giáo dục Việt Nam rất hấp dẫn nhà đầu tư ngoại bởi kinh tế Việt Nam tăng trưởng mạnh và đang chuyển dịch lên chuỗi giá trị cao hơn, kéo theo nhu cầu lớn về nhân lực chất lượng cao. Bên cạnh đó, hiện có hơn 130.000 du học sinh Việt Nam ở nước ngoài, chi khoảng 3 – 4 tỷ USD mỗi năm. Mặc dù con số này đã ổn định nhờ sự phát triển của các chương trình quốc tế trong nước, nhưng nhu cầu về giáo dục chuẩn quốc tế tại Việt Nam vẫn rất cao. Đây chính là cơ hội cho nhà đầu tư cung cấp “chất lượng toàn cầu” ngay tại địa phương.

Bài viết gốc: Vietnam Finance

TIN TỨC KHÁC

error: Content is protected !!