Phổ cập giáo dục trung học phổ thông nhìn từ kinh nghiệm của một số quốc gia

Từ kinh nghiệm quốc tế, Tiến sĩ Đàm Quang Minh cho rằng cốt lõi của phổ cập giáo dục phổ thông là xây dựng một hệ sinh thái giáo dục đa dạng, linh hoạt và liên thông.

Nghị quyết số 71-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2035 hoàn thành phổ cập giáo dục trung học phổ thông và tương đương. Đây được xem là một trong những định hướng quan trọng nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Trong bối cảnh, kỳ thi tuyển sinh lớp 10 trung học phổ thông năm học 2026-2027 vừa diễn ra ở nhiều địa phương trên cả nước và được xem là kỳ thi áp lực nhất trong giai đoạn phổ thông. Câu chuyện phổ cập giáo dục trung học phổ thông càng được quan tâm. Tuy nhiên, từ mục tiêu đến thực tiễn vẫn còn không ít thách thức.

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Đàm Quang Minh – Chủ tịch Khối Phổ thông Tập đoàn Giáo dục EQuest, Hiệu trưởng Trường Đại học Phú Xuân cho rằng, để hiện thực hóa mục tiêu phổ cập giáo dục trung học phổ thông, Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm từ quốc tế để xây dựng lộ trình phù hợp với điều kiện thực tiễn trong nước.

Tiến sĩ Đàm Quang Minh – Chủ tịch Khối Phổ thông Tập đoàn Giáo dục EQuest, Hiệu trưởng Trường Đại học Phú Xuân. Ảnh: NVCC.

Nhiều thách thức với mục tiêu phổ cập giáo dục trung học phổ thông

Theo Tiến sĩ Đàm Quang Minh, nếu trong thế kỷ XX, phổ cập giáo dục tiểu học là điều kiện để xóa mù chữ và phổ cập giáo dục trung học cơ sở là nền tảng cho quá trình công nghiệp hóa, thì trong thế kỷ XXI, phổ cập giáo dục trung học phổ thông chính là điều kiện tối thiểu để hình thành lực lượng lao động có khả năng thích ứng với nền kinh tế số, kinh tế xanh và xã hội tri thức. Đây cũng là xu hướng đang được nhiều quốc gia phát triển theo đuổi.

“Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo và tự động hóa làm thay đổi nhanh chóng cơ cấu việc làm, người lao động chỉ có trình độ trung học cơ sở sẽ ngày càng gặp nhiều khó khăn. Nhiều nghiên cứu quốc tế cho thấy năng lực học tập suốt đời, khả năng thích ứng với công nghệ mới và chuyển đổi nghề nghiệp phụ thuộc đáng kể vào nền tảng giáo dục trung học phổ thông mà người học được trang bị. Đây cũng là lý do nhiều quốc gia chuyển trọng tâm từ phổ cập kiến thức cơ bản sang phổ cập giáo dục trung học” – Tiến sĩ Đàm Quang Minh cho hay.

Tuy nhiên, ông cũng chỉ ra, để hiện thực hóa mục tiêu này trên phạm vi cả nước, chúng ta sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức.

Trước hết là sự chênh lệch về điều kiện phát triển giữa các vùng, miền. Tại các đô thị lớn, tỷ lệ học sinh tiếp tục học lên trung học phổ thông đã ở mức cao, nhưng tại nhiều khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, áp lực kinh tế vẫn khiến một bộ phận học sinh phải rời trường sớm để tham gia lao động. Do đó, cần có các chính sách hỗ trợ mạnh mẽ về học bổng, ký túc xá, giao thông và an sinh xã hội nhằm tạo điều kiện cho học sinh tiếp tục học tập.

Bên cạnh đó, năng lực đáp ứng của hệ thống giáo dục cũng là một thách thức lớn. Khi số lượng học sinh tiếp tục học sau trung học cơ sở gia tăng, hệ thống trường trung học phổ thông, trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên và các cơ sở đào tạo nghề sẽ phải được mở rộng tương ứng. Điều này đòi hỏi nguồn lực đầu tư đáng kể cho cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và công tác quản trị.

Theo Tiến sĩ Đàm Quang Minh, cần có cơ chế xã hội hóa linh hoạt, chính sách ưu đãi phù hợp để phát triển các mô hình giáo dục đặc thù, đồng thời Nhà nước tiếp tục ưu tiên đầu tư cho những lĩnh vực giáo dục chuyên biệt và các địa bàn còn nhiều khó khăn.

Một thách thức khác là thay đổi nhận thức xã hội về giáo dục trung học phổ thông và giáo dục nghề nghiệp. Tiến sĩ Đàm Quang Minh nhấn mạnh, phổ cập giáo dục trung học phổ thông không đồng nghĩa với việc tất cả học sinh đều phải đi theo con đường hàn lâm để vào đại học.

“Nhiều quốc gia như Singapore và Đức đã thành công trong việc phát triển các mô hình trung học nghề, trung học kỹ thuật và đào tạo theo định hướng nghề nghiệp. Điều quan trọng là mọi học sinh đều có cơ hội tiếp tục học tập sau trung học cơ sở theo hình thức phù hợp với năng lực và nguyện vọng của mình, thay vì rời khỏi hệ thống giáo dục. Quan điểm này cũng phù hợp với định hướng phân hóa và hướng nghiệp của Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành” – Tiến sĩ cho hay.

Thí sinh trước giờ làm thủ tục thi tuyển sinh vào lớp 10 ở Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: V.D.

Học hỏi từ các mô hình nước ngoài

Theo Tiến sĩ Đàm Quang Minh, kinh nghiệm quốc tế cho thấy phổ cập giáo dục trung học phổ thông đã trở thành xu thế chung của nhiều quốc gia trên thế giới. Hiện nay, phần lớn các nước thuộc OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế) đều đạt tỷ lệ hoàn thành giáo dục trung học phổ thông ở mức rất cao, nhiều quốc gia vượt ngưỡng 85-90%.

Tại Singapore, giáo dục sau trung học gần như đã trở thành chuẩn mực xã hội, với học sinh tiếp tục theo học tại các trường dự bị đại học (Junior College), trường cao đẳng thực hành (Polytechnic) hoặc các chương trình đào tạo kỹ thuật nghề chất lượng cao. Trung Quốc cũng đã theo đuổi mục tiêu phổ cập giáo dục trung học trong nhiều năm và nâng tỷ lệ tuyển sinh trung học phổ thông lên trên 90% tại nhiều địa phương.

Trong khi đó, Thái Lan thực hiện giáo dục cơ bản 12 năm và coi việc hoàn thành bậc trung học là điều kiện quan trọng để nâng cao năng suất lao động quốc gia. Những kinh nghiệm này cho thấy Việt Nam không đi theo một con đường riêng mà đang hòa nhịp với xu hướng phát triển chung của thế giới.

Giảng viên Trường Cao đẳng nghề Thành phố Hồ Chí Minh trong một buổi tư vấn hướng nghiệp tại trường phổ thông. Ảnh: Website nhà trường.

Tiến sĩ Đàm Quang Minh cho rằng, hiện nay trên thế giới có 03 mô hình phổ biến trong việc tổ chức giáo dục sau trung học cơ sở.

Thứ nhất là mô hình học thuật (academic pathway), hướng đến giáo dục đại học. Đây là con đường được áp dụng rộng rãi tại các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, nơi học sinh theo học chương trình trung học phổ thông nhằm chuẩn bị cho các kỳ thi tuyển sinh đại học hoặc các chương trình dự bị đại học.

Thứ hai là mô hình giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao (vocational pathway). Tại Đức, Áo và Thụy Sĩ, tỷ lệ lớn học sinh sau khi hoàn thành trung học cơ sở lựa chọn các chương trình trung học nghề kết hợp giữa học tập tại trường và thực hành tại doanh nghiệp. Đáng chú ý, con đường này có vị thế xã hội cao và vẫn tạo điều kiện để người học tiếp tục học lên các bậc học cao hơn khi có nhu cầu.

Thứ ba là mô hình kết hợp giữa giáo dục học thuật và giáo dục nghề nghiệp. Singapore được xem là một trong những điển hình thành công của mô hình này. Sau khi hoàn thành trung học cơ sở, học sinh có thể lựa chọn học tại các trường dự bị đại học, các trường cao đẳng thực hành để được đào tạo kỹ thuật ứng dụng hoặc theo học tại các viện giáo dục kỹ thuật (ITE). Dù lựa chọn hướng đi nào, học sinh vẫn nằm trong hệ thống giáo dục quốc gia và được bảo đảm cơ hội phát triển nghề nghiệp lâu dài.

Trung Quốc cũng đang phát triển theo hướng kết hợp khi đồng thời mở rộng cả hệ thống trung học phổ thông và trung học nghề nghiệp. Mục tiêu của quốc gia này không phải là đưa tất cả học sinh vào đại học mà là bảo đảm mọi thanh niên đều đạt trình độ giáo dục trung học và được trang bị những kỹ năng nghề nghiệp cần thiết đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động hiện đại.

Từ kinh nghiệm quốc tế, Tiến sĩ Đàm Quang Minh cho rằng điểm cốt lõi của phổ cập giáo dục trung học phổ thông không nằm ở việc mở rộng một mô hình giáo dục duy nhất, mà là xây dựng một hệ sinh thái giáo dục đa dạng, linh hoạt và có tính liên thông.

Trong hệ thống đó, học sinh có thể lựa chọn những con đường học tập khác nhau phù hợp với năng lực, sở thích và điều kiện cá nhân, nhưng đều có cơ hội tiếp tục học tập, phát triển bản thân và học tập suốt đời.

“Theo tôi, đây là hướng đi phù hợp đối với Việt Nam. Nếu chỉ tập trung mở rộng giáo dục trung học phổ thông theo định hướng học thuật truyền thống, việc đạt mục tiêu phổ cập sẽ gặp nhiều khó khăn.

Ngược lại, nếu phát triển đồng bộ giáo dục trung học phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên và các chương trình đào tạo kỹ thuật chất lượng cao, Việt Nam hoàn toàn có thể hiện thực hóa mục tiêu phổ cập giáo dục trung học phổ thông vào năm 2035 theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW, đồng thời đáp ứng tốt hơn nhu cầu nguồn nhân lực trong tương lai” – Tiến sĩ bày tỏ.

Bài viết gốc: Giáo dục Việt Nam

TIN TỨC KHÁC

error: Content is protected !!